LỘT TRẦN CHẾ ĐỘ CSVN

0
23

LỘT TRẦN CHẾ ĐỘ CSVN
Dương Thu Hương
Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ
lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần
khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi
khắp bãi bờ các quốc gia khác. Với dân chúng trong nước, giờ đây họ
thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ
thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển
bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản
mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn,
những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn
được bóng tối che đậy.
Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì
kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng.
Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần
bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay
bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ
không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có
thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi
hướng. Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã
át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở
miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng
niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những
người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên
các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . .
Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì? Khi con gái họ có nhu cầu
mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées
thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại
quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô
Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy,
để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng
giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi
kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt
Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu. Ai đó từng nói câu
này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha
đẻ của họ để có tiền”. Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một
trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện
nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi
họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn
ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa
thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết
cha. Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt,
không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công
quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng
loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”. Nghe tưởng
như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ
có ở Việt Nam, nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm
điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam, khi tất cả các cuộc kí kết,
thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng
không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này. Lấy ví dụ
thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm
được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại
sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư
coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của
đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối
trọng. Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi
các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có
tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối
đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt
người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri,
tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải
câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp,
buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có
tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay. Hãy đọc báo
Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn
Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay: “Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu
Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia
đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành
đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy
Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh,
Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà
nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu
sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công
nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu
tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . . ” Thứ
nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công,
biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là
đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước
cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia
trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột
của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả
thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của
người lao động bị đe doạ. Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ
riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức
ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ
là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn
Néandertal”? Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ
lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói
một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam
đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”. Tại
sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt
nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc
lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ,
những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợ hãi. Tại
sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng
sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu
lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc
lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào
cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng,
thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật
trong đũng cái quần hồng ấy. Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng
vào nó. Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo
cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà
trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh
phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ
“khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ
mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây. Trong
cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi
ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục,
ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.
Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý,
triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau
các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là
viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước,
nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi
chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt
sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và
chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước
Nam vua Nam ở”. Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người
Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất
quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân
nhưcác mợ Tầu. Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là
nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn
khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập
dân tộc”, cái khả năng nốitiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất
thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng
mắt của chính họ. Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng? Còn hay
chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu đểcắm ngọn cờ
hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã
ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ
quốc quyết sinh”? Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các
linh hồn ấy giờ đây đang nức nở. Nếu những hiển linh của các vua xưa
có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại
dân tộc, bọn sâu bọnày đã bôi nhọ mặt chúng ta!” Ngày Hội Ngàn năm
Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó
chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại
sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ
chăng? Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta
còn mười một người trong bộchính trị. Không lẽ cả mười một người này
mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh
thiểu năng? Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ
mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại
tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bịtiêm
thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức
sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai
của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của
những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ
bán nước. Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm
Thăng Long là một biểu tượng hai mặt. 1. Với triều đình Bắc Kinh chính
phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ
phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một
lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã
định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một
cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô
hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội. 2. Với dân chúng, đây
cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao
có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ
bị tiêu diệt.Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội
Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để
mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi
xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá
hành vi bán nước của mình. Nếu như năm 1945, cha anh họlà
các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên
phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho
giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có
câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con
“cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”. Những người cầm quyền Hà
Nội thừa thông minh để hiểu rằng họlà những con cẩu ghẻ. Rằng trong
dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên
gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, t
Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn
Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam
vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán. Ông nghị
Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có
phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả?
Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến
nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộbây
giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn:
đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà
chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không
thua kém họ. . . ” Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự
công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không
còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có
thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn
chó giữ nhà. Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong
tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON. Bác
chúng em Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp
gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo
bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực
là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”. Tôi
hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có
những người như ông Lê Giản. Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người
công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời
gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh. Tôi
chứng minh: Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên
từphương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụđã
báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde
(thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ
mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư. Bộ chính
trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ
quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người
thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợchẳng hạn), đối với người ngoài,
họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối
thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn
rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó. Tính kỉ luật
của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm
sao, những kẻ ngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống
của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh
cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏmặc mấy chục triệu người bị đầu
độc và chết dần chết mòn! Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của
chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh
dấu sự chuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công
an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân. Ba thập kỉ đã qua, những
kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trở
thành kẻ thù của nhân dân. Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích
thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ
dân để bảo vệông chủ của nó? Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên
internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn.
Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ
các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến
trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống
cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và
dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao?
Mấy thế kỉđã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính
xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều: “Đầy nhà
một lũ ruồi xanh” và “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”. Gần đây nhất,
hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán,
tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt
ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết. Tôi tự hỏi, có lúc nào
những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng
sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc
Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá? Nếu là
những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến
mạnh mẽ, tại sao họ không dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà
lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng
Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những
kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân
theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ? Vì
chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trả lời. Tôi
chỉ nêu lên nhận xét thứhai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình
đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.
Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh
Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại
huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia
đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền
mạng. Dân chúng xông lênủng hộ gia đình nạn nhân, con sốlên đến
hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộchưa từng có
trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói
rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.
Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả
mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thếcăm hờn của
đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng.
Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù
loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy
khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân. Có
lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng
phú quý vinh hoa nhưông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những
người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với
hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họcũng không phải là “thiên
đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì
đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờtương đối
trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được
số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra
ởNga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi. Thêm nữa, dù hổ
thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ
cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cảthì đó là cái chết xứng đáng
không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết
của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang
vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ. Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào
hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗicon người.
Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản đểchủ nghĩa cuồng tín
không thểđặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà. Một người công an,
nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao
nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi
phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại,
hay sự hy sinh của họ chỉđể làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến
các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (nhưông chủ tịch kiêm phó bí
thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộvà các ông khác chưa bị lộ
mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm
bổdưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám
mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và
vân vân. . . Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân
thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả
mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân
thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống
chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất
cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước
mũi súng của nhân dân. Dân Việt : Ai là dân Việt? Phải chăng đó là tộc
người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía
nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá
như chín mươi chín tộc Việt kia? Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất
Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều? Ngoài các lý do về
nhu cầu bờbiển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu
thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng
hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt. Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó.
Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã
chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc
Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng
phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh
đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua
chúa Trung Hoa không chịu được. Cách đây vài năm, ai đó từng nói với
tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về
chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”. Đó là một
nhận định sáng suốt. Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung
Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân
chúngủng hộ xâm chiếm Việt Nam. Theo công bố của ông ta thì con số
này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản
nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ
đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự
thật không ai có thể chối bỏ. Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ21, Trung
Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác
người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ
thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong
các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi
họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ
đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới.
Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉ làm ngáng
họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổhọng vô số dân
đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung. Vì lý do nào mà bộ
trưởng bộquốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò
chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định? Vì lý do nào mà trên
các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ
chó Việt Nam, phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta
sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn
tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được
quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt
trọn con dê Đông Dương? Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể
ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội
còn là một chính quyền độc lập mà không tựnguyện biến mình thành
đám gia nô cho vương triều Đại Hán? Tôi dành những câu hỏi ấy cho
bạn đọc trả lời. Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng
sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã
đấu tranh không mệt mỏi đểchống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã
nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia. Để tồn tại
và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương
Nam. Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “Nam tiến”! Nam
tiến, nam tiến và nam tiến! Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sựdưới triều Lê,
từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt
tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua
đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào
phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến
châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng
đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.
Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta. Bây giờ, chúng ta
không còn cơhội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam
tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu? Người Việt chỉ
còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu
của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng
cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho
mình và cho các thế hệ mai sau. Để giữ được non sông, để có thểlà
người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một
vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính
quyền bán nước, mộtchính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống
cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm
thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta
không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình
một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non
sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ
Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ
đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu. Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa
là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội
bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ
Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm
gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và
nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn
tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại
được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.
Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ
lý còn đọng chữ tình. Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ
mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút
khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉluỵ cái túi tiền của chính nó.
Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng
như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộlông của
chính nó mà thôi. Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần
truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc. Người dân Việt phải chém
cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu
chúng ta không muốn lặp lại số phận bi thảm của An Dương Vương.
Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội không đứng lên
cùng với họ. Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ
đến bao giờ?
DƯƠNG THU HƯƠNG

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here