VIET NAM infos
 
         
     

 
 
 

 

 

 

SOMMAIRE

 

Édito

 

Archives

 

Thèmes et humeurs

Dossiers

économie/politique

culture/société

brèves/dernières

Documentation

 

Contacts

 

Liens

 

 

 

 
 
 

 

 

Archives - Thèmes et humeurs

VIET NAM infos numéro 65 - octobre 2012

 

Hommage à un poète

 

 

Le poète Nguyễn Chí Thiện vient de nous quitter. Il avait 73 ans.


Nous vous invitons à regarder des vidéos d’un spectacle Hommage à Nguyễn Chí Thiện au Théâtre du Ranelagh, Paris, organisé par les publications Đường Mới, La voie nouvelle en 1987.

http://www.youtube.com/watch?v=QGjBSCTdC7w

http://www.youtube.com/watch?v=Mz9QKv1Pq3M&feature=relmfu



Et ci-dessous la traduction française de quelques poèmes des Fleurs de l’Enfer (Đường Mới, La voie nouvelle, 1985).
Le texte original de Hoa Địa Ngục (Fleurs de l’Enfer) est largement diffusé sur Internet.
En annexe : vous pouvez lire le communiqué de RFA en vietnamien et en anglais.

ARBRE
Nguyễn Chí Thiện

Avec toutes les espèces, je nais, je croîs en cet espace sauvage.
Mes racines s’enfoncent, profondes, dans le terreau natal.
Lumière du soleil, gouttes liquoreuses du ciel,
Matières informes qui, dans l’univers, sans cesse tournoient,
Je vous aspire, vous rejette et vous voilà bourgeons et fleurs.
Je croîs et ma peine grandit.
O mon pays Tes enfants ne mangent plus !
Sécheresse, cataclysme, guerre, séparation.
La sève s’est tarie et mes frères,
Rabougris, affamés, se dessèchent.

Voilà tant d’années que les loups règnent en maîtres,
Laissant hommes et bêtes exsangues, la peau tannées.
Nuit après nuit, plongés dans la même insomnie,
Montagne et fleuve partagent notre veille.


Je n’ai guère de rêve ; je ne me vois pas en arbre millénaire,
M’enracinant dans l’éternité.
Sur cette terre désolée, un seul désir me hante,
Donner ma part de fleurs, donner ma part de fruits.

Sur mon corps, criblés de flèches et mordu par la haine,
Le temps s’est fixé, gigantesque abcès.
Enchaînée dans cette forêt sacrée,
Ma floraison secrète n’est encore que livides bourgeons.

Tout autour rien que la mousse en nappe grise,
Feuilles mortes, tristesse d’automne, ombres et moisissures.
En silence, penché sur mon image que reflète stagnante
J’écoute, éveillé, le vent siffler des cimes,
J’ai foi en ce Ciel
Qui ne trahira pas ma terre nourricière,
Dans la nuit, sur l’immensité de ces régions torrides,
Le feu qui couve en moi et mille éclats explosera.


Traduction de Jean Maïs

De la Pensée à l’Action
Nguyễn Chí Thiện

Pour joindre la Pensée à l’Action
Jette un pont formé par les Mots.
Mais par-dessus l’immense fleuve de la Dictature
Ne pense à construire ni route ni pont.
Jour après jour vivent les Mots…
Secrètement, ils poussent la Pensée vers l’autre rive
A travers le réseau de chaînes et de fers
Qu’en vain le Parti installe à la place de routes et ponts
Car une fois éclose, ta Pensée vit, indestructible
Et viendra le jour où Elle éclatera en prodiges.

Traduction de Jean Maïs et de B.X. Quang

Je garde silence
Nguyễn Chí Thiện


Je garde silence
Quand par le fer, quand par l’acier ils me torturent,
Jusqu’à la souffrance extrême.
Faites de moi un héros si vous le voulez, pour le raconter aux enfants.
Je garde silence, simplement je me dis :
Qui se mettrait à supplier, à demander grâce
Aux bêtes sauvages rencontrées en pleine jungle ?


Traduction de B.X. Quang

Du singe à l’homme
Nguyễn Chí Thiện


Du singe à l’homme il a bien fallu quelques millions d’années,
De l’homme au songe, combien en faut-il, d’années ?
Citoyens du monde, venez voir !
Au fin fond de la jungle, des camps de concentration,
Des prisonniers nus et en groupes ils se lavent ;
Dans des cases sombres et puantes, ils se couchent
Avec des punaises, avec des moustiques ;
Pour un rien ils se battent – pour un bout de manioc –
Supportant fers, supportant chaînes, et des coups de toutes sortes.
Mutilés, déchiquetés, tués même, qu’importe !
Leurs cadavres sont toujours bons pour nourrir les rats !
Loin d’être agiles comme leurs ancêtres de la Préhistoire,
Ces singes bougent lentement,
On dirait même des clous, tant ils son décharnés.
Cependant ils travaillent. Sans arrêt, ils « produisent ».
Citoyens du monde, venez voir !


Traduction B.X. Quang

Mes poèmes
Nguyễn Chí Thiện


De la poésie, mes poèmes ?
Oh non ! Sanglot de ma vie,
Grincement de la porte au fond de ma prison,
Râle de mes poumons pourris,
Bruissement de la terre où meurt mon rêve, enseveli.
Coups de pioches, souvenirs exhumés,
Claquement de dents de la misère,
Estomac broyant le vide,
Solitude qui bat dans un cœur sans joie,
Cri d’impuissance sur un monde qui s’effondre,
Oh non ! Unique cri de ma vie bâtarde,
La mort, elle aussi, est bâtarde et non point poésie.


Traduction Jean Maïs

Autrefois, Li Bai
Nguyễn Chí Thiện


Autrefois, Li Bai leva les yeux. La lune luit.
Il baissa alors la tête, la terre natale, par son souvenir, le déchira.
Aujourd’hui, je lève les yeux : poussière et toiles d’araignée.
Puis je baisse la tête et j’écrase quelques punaises,
Et je récupère quelques grains de riz égarés.
Li Bai laissait reposer ses pieds sur le ventre du roi Tang,
Il était ivre.
Mes pieds reposent dans ces fers rouillés,
Mon corps se vide, j’ai faim.
Li Bai vivait au temps de la monarchie aveugle,
Féodalité, cruauté barbare, sans liberté aucune.
Je vis le temps de l’Abondance communiste,
Bonheur et Liberté à profusion,
Le paradis sur terre.
Quelle infortune pour Li Bai, mais quelle chance pour moi !

Traduction B.X. Quang

Porte de ma vie
Nguyễn Chí Thiện



Porte de ma vie, que de chemins obstrués,
Avec cette prison
Elle est plus condamnée encore.
Comment oublier ces horizons qui n’ont pas su tenir leurs promesses,
Pour que mon cœur trouve sa paix
Et ma toux, enfin, son silence.
Dans le noir,
Couleur de l’attente et du rêve abandonnés,
Je suis assis, sans thé, sans tabac
Et je te reçois, ma Muse, avec des mots grossiers.


Traduction B.X. Quang

--------------------------------------------------------
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/
preeminent-prisoner-poet-died-in-california-10022012125925.html


2012-10-02


Nhà thơ "ngục sĩ" Nguyễn Chí Thiện từ trần

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, được mệnh danh “Ngục sĩ”, nhà thơ phản kháng nổi tiếng nhất của Việt Nam, vừa từ trần tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ lúc 7 giờ 17 phút sáng ngày 2/10/2012, hưởng thọ 73 tuổi.


Courtesy VietAmReview – Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tác phẩm "Hoa Địa Ngục".

Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội, học hành và sinh sống ở Hà Nội, Hà Nam, Hải phòng với song thân phụ mẫu và một người chị.
Ông từng bị chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà bắt giam từ năm 1961, vì tội “phản tuyên truyền” bằng những bài thơ phê phán chế độ. Được trả tự do vào tháng 11 năm 1964, đến tháng 2-1966 ông lại bị tống giam đến tháng 7-1977. Ông viết lại bằng tay tập thơ “Hoa địa ngục” sáng tác và ghi nhớ trong tù.

Tháng 7-1979, ông đem đưa được tác phẩm này vào bên trong toà đại sứ Anh. Ông không đi tị nạn ở Anh và bị bắt ngay trước cổng toà đại sứ, bị tống giam thêm 12 năm, với chế độ giam giữ khắc nghiệt hơn hết so với những khoảng thời gian bị giam cầm trước đó.

Tập thơ “Hoa địa ngục” từ toà đại sứ Anh ở Hà Nội được chuyển tới giáo sư Patrick Honey (1925-2005) dạy tại đại học Luân đôn. Sau đó thơ ông được phổ biến trên báo chí, sách vở của người Việt hải ngoại, được dịch và xuất bản bằng Anh, Pháp, Việt ngữ. Năm 1985 ông được tặng thưởng khiếm diện giải thưởng thơ quốc tế tại Rotterdam.

Từ năm 1981 Tổ chức Ân xá Quốc tế Amnesty International, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch và Tổ chức nhân quyền Quê Mẹ cùng phát động chiến dịch kêu gọi quốc tế can thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam về trường hợp của ông.

Suốt thời gian đó ông bị giam tại Hoả Lò, Hà Nội, đến năm 1985 bị đưa đi biệt giam giữa rừng, kiệt sức và gần chết đói. Năm 1990 ông được đưa tới trại tù Ba Sao săn sóc thuốc men, và được trả tự do vào tháng 10 năm 1991.

Được anh ruột bảo lãnh sang Hoa Kỳ từ năm 1995, ông ghi lại và phổ biến tập “Hoa địa ngục” thứ nhì, gồm những bài ông sáng tác và ghi nhớ trong thời gian cầm tù sau . GS Nguyễn Ngọc Bích dịch tác phẩm nay sang Anh ngữ và xuất bản song ngữ. Ông viết tự truyện bằng Anh ngữ, được đại học Hawaii xuất bản trong “Beyond Works: Asian Writers on Their Works.”

Thi sĩ "ngục sĩ" Nguyễn Chí Thiện được giải thưởng của Hội Nhà văn Quốc tế vào năm 1998. Ông sang Pháp, ở lại đó 3 năm để viết “Hoả Lò tập truyện”. Tác phẩm được dịch sang Anh ngữ, đại học Yale xuất bản năm 2007.

Nhà thơ cư ngụ tại quân Cam California từ năm 2004, phải phấn đấu thường xuyên với những di chứng bệnh tật trong suốt 27 năm tù ngục, nhưng vẫn đi nhiều nơi để nói chuyện về kế hoạch dân chủ hoá Việt Nam.

Ông là một người độc thân, mất đi trong sự săn sóc của bạn bè thân hữu và những cuộc thăm viếng của những đồng bào Việt Nam ái mộ thơ văn của ông, ngưỡng mộ ý chí bất khuất của ông trước chế độ cộng sản của Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ Nghĩa.
http://www.rfa.org/english/news/

vietnam/poet-10022012191953.html

2012-10-02


Defiant Vietnamese Poet Dies
 

Despite decades in prison, his vision of a world without oppression inspired the Vietnamese people.


Photo courtesy of Dinh Quang Anh Thai – Nguyen Chi Thien in his hospital bed in Santa Ana, Sept. 27, 2012.

Nguyen Chi Thien, a poet internationally renowned for his writings composed during 27 years in prison under Vietnam’s communist government, died Tuesday at the age of 73 in California.

He had been admitted to Western Hospital in Santa Ana on Sept. 26, according to Dinh Quang Anh Thai, assistant to the publisher of the California-based Ngnoi Viet daily news, who visited with Thien on Thursday.
“He could speak, but he looked and sounded exhausted,” Thai told RFA.

Thien, a bachelor, passed away early in the morning on Tuesday, surrounded by friends and admirers of his work.

Known as Vietnam’s “preeminent prisoner” by his compatriots and admirers, Thien wrote some 700 poems – some as long as 500 lines – criticizing the one party Communist government and imagining a future for his country free of oppression and full of optimism.

Thien, who had been sentenced for works of “counter-propaganda,” was refused a pen and paper in prison, and was forced to compose his poems in his head before putting them to paper after his release.

Nguyen Ngoc Bich, a scholar and translator who published a book of Thien’s work in 1995, called his poetry “the product of his 27 years in prison.”
He said that while Thien was known for his “staunch anti-Communism,” he was admired because his poetry was “steeped in the Vietnamese tradition,” and inspired the Vietnamese people with imagery close to their hearts.
“He talks about a mother’s love, about the love of a country, about how his father tried to educate him to become a good man. And he talked about the future in a very optimistic tone, which is very unusual for a person in jail,” Bich said.
“[In his poems] he waits for that beautiful day where the babies’ diapers will win over the Red Flag – in other words that humanity will come back to Vietnam … The man had a great vision,” he said.
“That type of feeling, and thinking, and vision is very attractive to people … It was very close to the people’s feeling about the system.”

Decades in prison
 

Thien was born on Feb. 27, 1939 in Hanoi and lived with his parents and a sister during his youth.
He later joined the “Humanism Work” movement started by a group of North Vietnamese poets and writers who criticized the communist government through their poetry and writings, but was arrested and sentenced to a reeducation camp in 1961 for “counter-propaganda” poetry.
He was released in 1964, but was again arrested and sent to a labor camp from 1966 to 1977 on the same charges.

It was during this second stint in prison that Thien began to compose the poetry in his head that would later become “The Flowers of Hell.”
In 1979, he threw writings of his poetry to a guard inside the British Embassy, which passed it on to a Vietnamese scholar at London University.
The translation of his work later earned Thien the Rotterdam International Poetry Award in absentia in 1985.
His brazen act earned him 12 more years in the infamous Hoa Lo prison – also known as the Hanoi Hilton – beginning in 1979, during which time he nearly died from mistreatment when left in solitary confinement in 1985.

Bich said that Thien was subjected to various forms of torture during his time in Hoa Lo.
“He was subjected to quite a lot of [torture] at the beginning, but he was a person who could stand a lot of suffering,” Bich said.
“They would pull his elbows behind his back and tie them and pull him up to the ceiling. It hurts tremendously. Or they would put him in rusty feet shackles which would infect his ankles and make them swell up.”

But despite the suffering, Bich said that Thien remained critical of the communist government until his release in 1991.
When his work was first published in the U.S., some of it was published in Thien’s own handwriting, Bich said.
The guards at Hoa Lo confronted him with the handwriting and Thien admitted that the writing was his in an act of defiance.
“He said, ‘Sure, that’s me. In fact, if you want to make sure that it’s mine, I can even read it by heart for you.’ So he sat there and read for them several poems,” Bich said.
“That was enough to convince them that he was the author.”

Release from jail
 

Beginning in 1981, a number of human rights groups, including London-based Amnesty International and New York-based Human Rights Watch, launched a campaign demanding Thien’s release.

Thien moved to the U.S. in 1995, four years after his release, to live with his older brother and wrote his second book of poetry, “The Flowers of Hell II,” comprised of work he composed during his final 12 years in prison. Nguyen Ngoc Bich translated and published the edition.
Thien went on to write his autobiography and a compilation of short stories based on his experiences in Hoa Lo.
He moved to Orange County, California in 2004 where, despite suffering from a number of illnesses he incurred during his 27 years of prison, he was an active member of the Vietnamese community and a vocal advocate for the democratization of Vietnam.

Reported by Viet Long for RFA’s Vietnamese service and by Joshua Lipes. Translated by Viet Long. Written in English by Joshua Lipes.
 

Bùi Xuân Quang 





 




économie/

politique

 

 

OMC

 

ASEAN

 

Brèves

 

Paysans : un premier succès

 

Le Parti pur le Progrès du Viêt-Nam

 

Ly Tông victime de la diplomatie thaïlandaise

 

 dossier

 

 

Le Bloc 8406

 

Le rapport de la Commission des droits de l’homme du Parti conservateur de la Grande-Bretagne

 

 

Actualité

 

 

Le Vénérable Thich Quang Dô, lauréat du prix Rafto

 

 

Réactions du pouvoir communiste face au mouvement démocratique

 

 

 

Soutenez AFVE.